jump to navigation

Tìm hiểu thẻ tín dụng 19/11/2007

Posted by Hung Nguyen in Uncategorized.
Tags:
trackback
Credit Cards hay các thẻ tín dụng đối với đa số người Việt tại hải ngoại không có gì là mới mẻ, đã có nhiều bài viết về vấn đề này rồi nên cũng chỉ lập lại và thêm chút xíu thôi. Mình thấy nguồn lợi tức chính của các ngân hàng không phải là cho các công ty lớn vay muợn hàng trăm triệu dollars để thu lời mà do tiền lời và lệ phí thu được từ các thẻ tín dụng . Nói ra chắc các bạn không tin, nhiều khi ngân hàng thu lời đuợc 100% từ tiền cho vay ở thẻ tín dụng . Ví dụ ngân hàng A cấp cho anh B một thẻ tín dụng với credit line là $500.00 USD và annual fee là $79.00 USD một năm tiền lời là 19.9%/năm nếu anh B xài quá credit line của mình thì tiền lời sẽ là 26.5%/năm và mỗi lần vuợt qua giới hạn ( over limit fee ) sẽ bị phạt $39.00/lần, anh B này trả trễ cũng bị phạt $39.00 USD/lần . Các bạn thử cộng lại sẽ thấy anh B này đã tốn bao nhiêu tiền cho ngân hàng

– Việt Nam trong tưong lai thẻ tín dụng cũng sẽ đưọc phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội, vì vậy chúng ta cũng nên tìm hiểu thêm về vấn đề này . Vivi sẽ tham khảo từng bước với các bạn về thẻ tín dụng:
Trong một giao dịch bán lẻ truyền thống các vạch từ được đọc bởi thiết bị đầu cuối của điểm mua bán . Mã số kiểm tra giá trị sử dụng của Visa card ( CVV ) hay Mastercard ( CVC ) được mã hoá trong các vạch này có thể được người phát hành thẻ kiểm tra trong thời gian còn hiệu lực sử dụng . Tuy nhiên nếu thẻ không còn giá trị sử dụng thì thẻ CVV hay thẻ CVC không còn hợp lệ nữa . Để giảm hiện tượng lừa đảo trong môi trường sử dụng card không hiện hữu ( card ảo ) những người mua hàng ,nhà buôn và người dùng thẻ sử dụng cvv2 hay cvc2 :

– Vậy Cvv2 Hay Cvc 2 Là Gì :

cvv2 hay cvc2 là mã số bảo mật gồm bộ ba kí tự số được in ở mặt sau card , những số này xuất hiện ở dạng nghiêng ngược ở ngay đầu khung chữ kí và ở cuối ( xem mã u ) . Chương trình này giúp hiệu lực hoá một thẻ đang sử dụng trong giao dịch . Tất cả các thẻ Mastercard , cả thẻ tín dụng lẫn thẻ nợ , được cc yêu cầu là phải có chữ a CVC2 trước ngày 1/1/97 còn tất cả các thẻ VISA phải là 1/1/1001

– CVV2 Hay CVC2 Hoạt Động Như Thế Nào :

Các nhà buôn thẻ ảo được hướng dẫn rằng phải yêu cầu người giữ thẻ xuất trình cvv2 /cvc2 khi người giữ thẻ đặt hàng . Nhà buôn yêu cầu người giữ thẻ đọc mã số này từ thẻ . Sau đó nhà buôn yêu cầu kiểm tra cvv2/cvc2 trong quá trình được sử dụng . Người phát hành thẻ xác định tính hợp lệ của cvv2 hay cvc2 và truyền đi kết quả từ chối hay chấp nhận trong quá trình được quyền sử dụng . Nhà buôn bằng cách sử dụng cvv2/cvc2 cùng với dịch vụ kiểm tra địa chỉ ( AVS) và những phút bàn về quyền sử dụng sau đó có thể thực hiện các quyết Ċ ?ịnh có nhiều thông tin hơn đối với việc chập thuận việc giao dịch đó hay không . . Ngoài ra khi sử dụng cvv2/cvc2 các nhà buôn có thể hi vọng giảm được chi phí trả lại ( chargeback) ít nhất là 26%

-Thay đổi đối với khung chữ kí


Trước đây các số cvv2 hay cvc2 đi theo sau số tài khoản 16 số in ở khung chữ kí của thẻ . Số tài khoản 16 số bây giờ đã bị cắt ngắn còn 4 số trên khung chữ kí . Sự thay đổi này giúp người sử dụng thẻ ký thẻ của họ dễ dàng hơn . Nó cũng giúp nhà buôn dễ dàng hơn khi so sánh chữ kí trên thẻ và chữ kí trên phiếu bán hàng.19 chữ số ( 16 + 3 ) không còn gây cản trở trong việc kiểm tra chữ kí nữa

– Mã Số Kết Quả Là Gì :

+ Định nghĩa :

M : cvv2 khớp nói chung là bạn muốn thúc đẩy các giao dịch mà bạn đã nhận được chứng nhận thẩm quyền sử dụng ( một cvv2 khớp và một thẻ kiểm tra địa chỉ khớp nếu cần )

N : Cvv2 không khớp có lẽ bạn phải tiếp tục làm việc với người sử dụng thẻ trước khi thực hiện giao dich ngay cả khi bạn đã nhận được một chút chứng nhận thẩm quyền sử dụng . Nếu bạn đã nhận được một chút chứng nhận thẩm quyền sử dụng nhưng bạn nghĩ rằng một giá trị cvv2 không có lẽ đã được gửi đi trước bạn có thể gửi trả lại cvv2 nhưng phải chắc chắn rằng đã sử dụng số tiền $ là 0 cho giao dịch đó để đường tín dụng của khách hàng không bị ảnh hưởng bởi một cvv2 thứ 2 nữa

P : Yêu cầu cvv2 không được thực hiện hoặc ngày hết hạn không được cung cấp , hoặc card không có giá trị cvv2 . Nếu ngày hết hạn để trống hãy nộp lại như là số tiền $ = 0 cho giao dịch đó để đường tín dụng của khách hàng không bị ảnh hưởng bởi một cvv2 thứ 2 nữa


S: Cvv2 có trên card nhưng nhà buôn gửi một mã số nói rằng không có cvv2 . Có lẽ bạn phải làm việc lại tiếp tục với khách hàng để kiểm tra lại rằng khách hàng đã kiểm tra vị trí chính xác đối với số cvv2

U: Người phát hàng không ủng hộ Cvv2

Link Address Verification Service ( AVS )

Atlantic Payment – Dịch vụ kiểm tra địa chỉ : Nếu bạn là nhà buôn dùng thẻ tín dụng , bạn có thể so sánh địa chỉ chi trả của khách hàng USA tại ngân hàng phát hành trước khi hoàn thành một giao dịch mà vạch từ không thể đọc đuợc . Quá trình kiểm tra này yêu cầu cần thiết nếu bạn là nhà buôn dùng thư tín , internet , thư tín hay điện thoại …

Khi yêu cầu kiểm tra tín dụng thông thường hay uỷ quyền sử dụng bạn phải nhập thông tin địa chỉ chi trả do người sử dụng card cung cấp , khi hệ thống máy tính tiếp xúc với người phát hành và yêu cầu chứng nhận tín dụng , thì thông tin địa chỉ được so sánh vói thông tin trên hồ sơ tại nơi người phát hành . Người phát hành sẽ gửi một mã số phúc đáp với một phúc đáp về thẩm quyền sử dụng tín dụng . Bạn sẽ thực hiện các quyết định kinh doanh sử dụng sau khi xử lý các phúc đáp khác nhau . Tuy nhiên bạn phải luôn nhớ rằng khi một khách hàng cáo buộc rằng họ không hề gửi một đơn đặt hàng bằng mail , điện thoại hay inernet với bạn thì AVS ” khớp chính xác ” X”hay ” Y ” sẽ giúp bạn bác bỏ cáo buỊ ?c đó . Và hãy nhớ rằng rất nhiều thiết bị xử lý () sẽ không xử lý các giao dịch mua bán với mã số phúc đáp ” N” . Hãy tiến hành một cách thận trọng
Có rất nhiều bạn khi nhìn thấy CC được post lên lại hỏi những câu đại loại như :


– Cái đống trên đây là gì thế , sử dụng như thế nào ?

– Cái Name on Card đâu … Address ở chỗ nào ?

THÔNG TIN VỀ CARD

Một cái CC hợp lệ phải bao gồm đầy đủ các yếu tố sau :

+ Name on Card hay Card holder : Họ tên chủ thẻ .

+ Billing or Mailing Address : Địa chỉ .

+ City : Thành phố .

+ State : Bang ( của Mẽo và Canada ) .

+ Zip COde ( Post code ) : Mã vùng .

+ Card number : Số thẻ .

+ Card Exp date : ngày hết hạn của thẻ .

và có thể có vài thành phần khác như :

+ Phone number : Số phone ( 11 số ) .

+ Fax Number : Số Fax ( 11 số ) .

hay nhất là khi CC của bạn có cái này :

+CVV2 hay CVN : cái này là mã số bảo mật in trên CC .

KINH NGHIỆM

Không có gì hơn là phải dùng nhiều , nhìn nhiều rồi sẽ quen thôi

—–Sẽ dễ dàng hơn nếu bạn có một vốn tiếng Anh kha khá—–

+ Một đống như sau :

VISA Brett Crow 4300230019306705 11/03 Brett Crow 7 Spruce Street Esko, Minnesota 55733 (XXX)-XXX-XXXX XXX


– Các bạn nhìn cái nào có vẻ là tên người thì nó là Name đấy ( Đừng có cười ! Sự thật đấy ) . Thông thường thì name nằm ở đầu hoặc ngay sau cái Exp date . Như ở đây nó là Brett Crow .

– VISA là nói đây là một cái VISA .

– Một chuỗi 16 con số bắt đầu = 3,4,5 hoặc 6 tùy loại card là CC number . ở đây là 4300230019306705

– Một cụm có cấu tạo theo dạng : AB/CD hay 4 số liên tiếp ABCD là Exp date . thường Exp nằm ở ngay sau CC Number . Ở đây là 11/03 Tức là tháng 11 năm 2003 .

– Sau tên hoặc Exp date sẽ là Address ! Có cấu trúc dạng : [Số] [ Chữ ] …… thường hay kết thúc = street, driver, Dr, …. thường thôi nhé chứ không phải là tất cả đâu . Đặc biệt có một số địa chỉ có dạng P.O Box [……..] đây là hộp thư lưu trú đăng ký ở bưu điện ! Ở đây address là : 7 Spruce Street .

– Zipcode ( Post code ) : Một chuỗi có 5 số ( Mẽo Only ) nhưng nhiều khi lại có ngoại lệ . ở đây zip là 55733 .


– State : Có thể Viết tắt ( 2 chữ cái viết hoa ) hoặc viết full . Dùng nhiều sẽ thuộc State ( Bọn mẽo có bao nhiu bang ý, quên mất roài ) . State thường đứng ngay sau City và đứng ngay trước Zip ! Ở dống này là Minnesota .

– City : không có gì đặc biệt ngoài việc nó đứng sau Address và trước state .


– Phone : Một dãy 11 số có cấu trúc dạng : (XXX)-XXX-XXXX hay XXX-XXXXXXX …… XXXXXXXXXX . Phone thường đứng sau Zip. Nếu liền cạnh Phone có một dãy cấu trúc tương tự thì đó là số Fax .


– Đống này không có Phone nhưng bạn có thể tìm thấy Phone = 1 cách rất đơn giản : sang một search engine (máy tìm kiếm ) bất kỳ ví dụ như là http://www.google.com/ hay http://www.av.com/ nhập Zip của bạn vào trường search rồi tìm ! Kết quả sẽ là rất nhiều địa chỉ trong đó có số phone thuộc thành phố có Zip code giống bạn ! ! Dễ dàng thế thôi !

– CVV2 : Nếu CC Number của bạn có đầu 4 hay 5 thì CVV sẽ có 3 số . Còn nếu đầu 3 hay 6 thì sẽ có 4 số ! CVV2 nằm ở cuối cùng của đống . ! Ở đây không có Cvv2 thực mình dùng tạm XXX !

1- Thẻ tín dụng là gì ?

2- Có bao nhiêu loại thẻ tín dụng ?

3- Ai có thể xin thẻ tín dụng và làm sao để xin ?

4- Xin thì dễ mà giữ cho tốt mới là khó !

5- Trả không nổi nợ thẻ tín dụng thì sao ?

6- Làm sao để làm tốt lại tín dụng xấu ?

7- Những điều nên biết về credit score

8- Thẻ tín dụng manh laị những lơị ích gì ?

Đây là một tài liệu rất hữu ít cho bất cứ ai đang sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới . Vì thẻ tín dụng và tín dụng đang được xử dụng rộng rãi , và trong tương lai sẽ thay thế hẳn tiền mặt

I – Thẻ Tín Dụng Là Gì ?

1 – Lịch sử thẻ tín dụng:

Khoảng hơn 3000 năm trước đây, do nhu cầu trao đổi hàng hoá đòi hỏi và để cho sự buôn bán của các doanh thương thời đó tiện lợi hơn, nên tín dụng đã lần đầu tiên được xử dụng tại Assyria, Babylon và Egypt, mãi tới đầu thế kỷ 14 ngân phiếu tiền trang ( Bill of exchange) và chi phiếu ( forerunner of banknotes, mới được mới được hình thành, các món nợ và thanh toán hoá đơn được giải quyết bằng cách trả trước 1/3 tiền mặt ( coins ) phần còn lại bằng Bill of exchange . Cho đến thế kỷ 17th sự phát minh ra tiền giấy , thì việc mua bán và trao đổi mới dễ dàng hơn nhiều.

Năm 1730 ông Christopher Thornton , doanh thương về bàn tủ ( furniture ) đã quảng cáo và đưa ra chương trình mua trả góp đầu tiên trong lịch sử thương mại của loài người . Từ thế kỷ 18th tới đầu thế kỷ 20th . Những người Tallymen bán trang phục cho khách hàng băng cách trả góp hàng tuần. Họ được gọi là Tallymen vì hồ sơ trả tiền của khách đuợc lưu giữ và tính toán trên một miếng gỗ ( wooden stick ) tiền nợ được ghi trên một đầu và tiền trả hàng tuần được khắc trên đầu kia . Chương trình mua trả góp ” Buy now, pay later ” mãi tới năm 1920 mới được giới thiệu tới Hoa Kỳ, dịch vụ này vẫn còn giới hạn ở từng cửa hàng.

Con người theo sự tiến hoá ,vì nhu cầu tiện ích đòi hỏi đã phát minh ra tiền cắc ( coins ) tiền giấy, ngân phiếu, chi phiếu, và cũng do nhu cầu đòi hỏi nên , khoảng năm 1951 ông Frank X. McNamara ( vị tổ khai sinh ra thẻ tín dụng ) dã thành lập công ty đầu tiên phát hành thẻ tín dụng, 200 chiếc thẻ Credit Card đầu tiên đã cấp cho những người giàu có và có tiếng tăm trong xã hội tại New York và những chiếc thẻ này chỉ được xử dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng ở New York lúc bấy giờ nên có tên gọi là Diners Club Công ty American Express cũng theo gót Diners Club cho ra đời chiếc thẻ American Express , vì sự hạn chế chỉ để xử dụng trong việc ăn uống , du lịch nên loại thẻ này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội và chưa được xem như là chiếc thẻ thần kỳ ( the Magic Card ) . Song song với sự ra đời của 2 thẻ này các công ty bán lẻ, xăng dầu cũng cho ra đời một loại thẻ gọi là Charge Card cũng còn giới hạn là laọi này chỉ xài được ở công ty cấp thẻ này thôi . Như thẻ Sears thì chỉ mua hàng ở Sears , Shell thì chỉ đổ xăng ở các cây xăng Shell v.v., . Vậy thì chiếc thẻ thần kỳ đuợc phát minh lúc nào ?.

– Trong thời kỳ Đệ II thế chiến Tất cả các credit card và Charge card đã cấm sử dụng, cho đến sau thế chiến thì mới được phổ biến rộng rãi trở lại . Vì lợi tức mang lại từ thẻ tín dụng khá nhiều nên các ngân hàng bắt đầu nhúng tay vào . Tuy nhiên vẫn còn xử dụng tại địa phương và các cửa hàng bán lẻ . Cho đến năm 1970 , khi mà kỹ thuật điện toán bắt đầu phát triển và hệ thống căn bản cho ” The Standards for Magnetic Strip ” được hình thành , thì kỹ nghệ Credit card mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở nên một phần của thời kỳ Thông Tin ” Information Age “

Chiếc thẻ Thần Kỳ ” Revolving Credit Card ” lần đầu tiên cấp cho người xử dụng tại tiểu bang California do Bank of America phát hành nên gọi là BankAmericard và nhanh chóng phổ biển rộng rãi khắp tiểu bang . Cái thẻ thần kỳ này đã bắt đầu một bước tiến quan trong cho kỹ nghệ credit card . Thẻ BankAmericard đã cho người xử dụng 1 sự lựa chọn trong việc thanh toán tiền bạc . Họ có thể trả hết 1 lần hoặc trả góp từng tháng ( minimum payment) số tiền thiếu còn lại , ngân hàng sẽ bắt đầu tính tiền lời . Phương pháp này đưọc tiếp dùng cho đến ngày nay .Thẻ này còn thêm một ưu điểm mà ai cũng thích là nếu kẹt tiền , người xử dụng ( cardholder) có thể ra ngân hàng mượn tiền mà không cần phải điền những thủ tục mượn tiền phiền toái ( nhanh, gọn, lẹ ).

Vì sự tiện lợi của thẻ này và nhu cầu đòi hỏi của khách hàng, Bank Card Association được thành hình , vào năm 1965 Bank of America đã cấp giấy phép ( Licensing ) cho những ngân hàng lớn , nhỏ khắp Hoa Kỳ , cho phép những ngân hàng này cấp thẻ BankAmericard cho khách hàng xử dụng ( đương nhiên phải trả tiền cho Bank of America ). Tới năm 1969 hầu hết các thẻ tín dụng do những ngân hàng độc lập cấp đều chuyển qua loại thẻ BankAmericard hoặc MasterCharge Card . Cho nên có thể nói Bank of America là vị tổ khai sinh ra cái thẻ thần kỳ này và lợi tức mang lại từ những chiếc thẻ này đã góp phần không nhỏ đưa Bank of America từ một ngân hàng địa phương ( local bank) thành 1 trong những ngân hàng lớn nhất thế giới .

Thẻ tín dụng cấp phát ngày càng nhiều, công việc xử lý hoá đơn cho từng trương mục ( account)nhiều đến nổi các hệ thống ngân hàng không đảm đương nổi và từ đó dẫn đến sự ra đời của các hội thể tín dụng ( Credit card associations ) như Interlink Association, Western State Bank Card Association, và National BankAmericard Ịnc,. Trong khoảng thời gian này các hoa đơn chưa được điện tử hoá , vẫn còn dùng các loại hoá đơn bằng giấy ( 1 người khách mua hàng hay cash tiền , người thâu ngân phải gọi điện thoại để xin thanh toán hoá đơn (approve charge)sau khi ngân hàng cấp thẻ ( Issue Bank ) đồng ý trả tiền thì sẽ cho người nhận (merchant) 1 số ( authorization number )rồi người nhận lấy 1 hoá đơn ( gồm 3 copy)đặt credit card và hoá đơn này lên một cái máy ( Imprinter) cà qua cà lại ( slide)vài lần để những con số trên thẻ in xuống hoá đơn, sau đó điền số bằng lái, số phone và chữ ký của người chủ thẻ ( cardholder) . 1 bản giao cho người khách, 1 bản deposit vào ngân hàng và 1 bản người nhận giữ .Người Việt chúng ta thường nói đùa mỗi khi trả tiền bằng thẻ là Cà thẻ ( Chi tiết sẽ nói trong bài ” Hóws the banking system work ). Chỉ một transaction thôi đã mất nhiều thì giờ mhư vậy, các bạn thử nghĩ mỗi ngày ngân hàng xử lý cả trăm triệu transaction thì mất bao nhiêu thời gian . Đây cũng là dịp để những người ” cho tôi ăn ké với” có cơ hội kiếm ăn Credit card fraud ( sẽ nói riêng về phần này )

Như đã nói ở trên, mãi tới năm 1970 sự ra đời của máy điện toán ( IBM computer nó to như cái xe bò)thì kỹ nghệ credit card mới rẻ qua 1 con đường thêng thang rộng mở . Cho phép người nhận thẻ ( retail establishment or merchant) nhận trả bằng thẻ 24 giờ/ 1 ngày và cũng giảm một số lượng giấy tờ đáng kể .

Khoảng giữa thập niên 70 kỹ nghệ credit card mon men tìm kiếm khách hàng trên thị trường quốc tế, nhưng gặp vài trở ngại vì chữ America cho nên BankAmericard đổi thành Visa và Master Charge vì trong 1 vụ kiện đã đổi thành Master Card

Khoảng năm 1979 nhờ sự tiến bộ trong ngành điện tử và điện toán cá nhân ( electronic & PC personal computer ) kỹ nghệ credit card lại tiến thêm 1 bước quan trọng nữa . Sự tiến bộ này đã cho phép người nhận thẻ ” chà ” swipe thẻ của khách hàng qua máy ( dialup terminal) và mọi thủ tục được điện tử hoá ( electronic processing ) nên đã tiết kiệm được rất nhiều thì giờ và tiền bạc đồng thời cũng nảy sinh ra kỹ nghệ tái chế giấy cũ ( paper recycle )vài người Việt cũng làm giàu nhờ kỹ nghệ tái chế này ( recycling industry )
Bảo mật với Online Banking

TTO – Bắt đầu sử dụng từ những năm 1990, thanh toán trực tuyến (Online Banking) là cốt lõi đối với thương mại điện tử. Tuy vậy việc quản trị và bảo mật tài khoản vẫn không thể ngăn được những thất thoát đáng tiếc, nhất là trong tình trạng tội phạm tài chính Internet đang ngày một nở rộ như hiện nay.

An ninh tài chính mạng vẫn luôn là một thách thức đối với bất kỳ ngân hàng nào.

Có thể ngồi tại Việt Nam, đặt mua một món quà cho người thân đang ở Pháp. Hóa đơn điện nước, điện thoại có thể tự động định kỳ thanh toán. Bạn đặt mua một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ trên Internet và chiếc đồng được đem đến tận nhà bạn tại Anh. Hơn 53 triệu người Mỹ đã và đang làm quen dần với hình thức này.

Một hệ thống Online Banking thường bao gồm luôn cả chức năng ngân hàng dành cho người dùng. Khách hàng có thể truy xuất tài khoản để biết thông tin, thực hiện các tác vụ mua bán và chuyển nhượng tài chính. Đơn giản, chỉ cần truy xuất vào tài khoản thông qua Internet, vừa nhanh chóng vừa tiện lợi và chính xác.

Một nghiên cứu kéo dài 18 tháng của Bank of American cũng cho thấy, khách hàng sử dụng dịch vụ trực tuyến có xu thế “trung thành” hơn. Hơn nữa, Online Banking hiện là một dịch vụ miễn phí. Sự tiện dụng, kinh tế chính là ưu điểm của loại hình thanh toán này.

Biểu đồ so sánh tình hình sử dụng các giải pháp an ninh ngân hàng trực tuyến tại châu Âu.

Thực trạng an ninh

Những báo cáo gần đây về tình trạng vi phạm, phá rào và lừa gạt để lấy thông tin trong lĩnh vực tài chính làm cho khách hàng e ngại các hoạt động chuyển nhượng tài chính trực tuyến. Các hành động lừa đảo trên Internet dễ thực hiện, ít nguy hiểm và ít tốn kém hơn.

Từ những nghiên cứu mới nhất của Javelin và Pew Report cho thấy, phần lớn các lỗi không phải về phía ngân hàng mà về phía khách hàng. Chỉ tính riêng trong việc bị mất cắp thông tin tài khoản, thì các nguyên nhân ngoại tuyến chiếm 68%, bao gồm cả việc mất ví, sổ tay và thư tín dụng. Tỷ lệ lừa gạt trực tuyến chỉ chiếm có 11,6%.

5% người Mỹ là nạn nhân của các cuộc tấn công tài chính trên mạng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp với con số tổn thất khoảng 53 tỷ USD hàng năm.

Thế nhưng, khách hàng có điều kiện theo dõi thường xuyên tài khoản của mình cũng là một cách hay để hạn chế mất tiền. Vì tài khoản được theo dõi thường xuyên hơn, số lượng tiền nếu có bị thất thoát cũng rất ít. Khả năng phát hiện sớm những cuộc đánh cắp sẽ hạn chế số lượng tiền bị thất thoát.

Những khách hàng không sử dụng Online banking có xác suất mất thông tin tài khoản cao hơn vì họ để lại nhiều dấu vết vật lý như sổ tay, hóa đơn chứng từ, tạo điều kiện cho kẻ cắp biết được thông tin tài chính của mình.

Chứng thực đa cấp

Chế độ chứng thực đa cấp đang được xem xét để thay cho chế độ đơn cấp hiện nay, nhằm giải quyết một trong các vấn nạn an ninh tài chính. Ở chế độ đơn cấp, bạn chỉ cần có mật mã là đủ. Điều đó rất dễ dàng bị người khác ăn cắp mà ngay đến bạn cũng không hề biết.

Tuy nhiên, với chế độ đa cấp thì thường mật mã phải được kết hợp với một dạng thông tin “không thể bị đánh cắp”, có thể là một câu hỏi mang tính cá nhân kết hợp với câu trả lời… Đây là cách thức được dùng bởi Bank of Americans, với chương trình SiteKey.

Một cách khác là dùng các hệ chìa khóa. Đó có thể là một thiết bị giải mã đặt tại máy tính cá nhân, có chìa khóa và chỉ hoạt động với số PIN của riêng mỗi người. Sẽ dễ dàng hơn cho chủ nhân để phát hiện ra chìa khóa bị mất thay vì một mớ ký tự trong đầu.

Sinh trắc học cũng đang là một trong những giải pháp được hướng đến kết hợp với trong chế độ chứng thực đa cấp. Đây được xem là một trong những giải pháp của tương lai. Hiện cũng có một số công ty đã bắt đầu sản xuất bàn phím sinh trắc học để dành cho các tác vụ chứng thực. Tuy nhiên, giá còn hơi cao.

Giải quyết về chế độ chứng thực chỉ là một trong những giải pháp nhằm tạo một môi trường an toàn hơn cho Online Banking. Không thể có một môi trường nào là tuyệt đối an toàn cả.

Căn bản về Credit Card

Một Number Card thường gồm có 16 chữ số, có loại có 13 chữ số.

Trong đó, 4 chữ số đầu tiên thường quy định và là dấu hiệu nhận dạng bởi các tên của ngân hàng phát hành Card đó

3xxx xxxx xxxx xxxx: Ameriacan Express Card

4xxx xxxx xxxx xxxx: Visa Card

5xxx xxxx xxxx xxxx: Master Card

6xxx xxxx xxxx xxxx: Discover Card

Chữ số đầu tiên thường được dùng để nhận biết đó là Card của loại nào.

3 = Ame

4 = Visa

5 = Master

6 = Discover

3 chữ số tiếp theo sau là tên nhận dạng ID của ngân hàng.

Nói chung, khi ta nhìn vào 4 ký tự số đầu tiên ta sẽ biết đó là thể loại nào: American Express Card, Visa Card, Master Card hay Discover Card.


AMERICAN EXPRESS

3XXX

3728

3713

3731 – AmEx Green

3737 – AmEx Optima

3782 – AmEx – Small Corporate Card

….

VISA CARD

4XXX

4013 – Citibank

4019 – Bank of America

4024 – Bank of America

4027 – Rockwell Federal Credit Union

4032 – Household Bank

….

MASTER CARD

5XXX

5100 – Western States Bankcard Association

5110 – Universal Travel Voucher

5120 – Western States Bankcard Association

5130 – Eurocard France

….

DISCOVER CARD

6XXX

6013 – MBNA

….

Làm sao để kiểm tra số Card là đúng. Nhờ đâu mà các chương trình kiểm tra Card có thể biết được đó là số đúng của Card.

Câu trả lời đó là tất cả đều phụ thuộc vào con số cuối cùng của Card. Đó là con số mà những chương trình gọi là số tổng kiểm tra (checksum), con số này sẽ quyết định dãy số của Card là số đúng hay sai.


Nếu con số cuối cùng là đúng và phù hợp thì nó là một dãy số Number Card đúng, chúng ta có thể dùng nó.
Nếu số đó là một con số sai thì coi như Number Card đó sai.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thông minh và để ý một chút thì ta vẫn có thể tìm được một Number Card đúng sau 9 lần thử khác nhau. Vì ta có thể thay đổi con số cuối cùng thành 1 trong 9 lựa chọn khác:

Ví dụ: 3xxx xxxx xxxx xxx5 : dãy số đúng ta cần tìm.
Ta lần lượt thay con số cuối cùng như sau:
3xxx xxxx xxxx xxx0
3xxx xxxx xxxx xxx1
3xxx xxxx xxxx xxx2
3xxx xxxx xxxx xxx3
3xxx xxxx xxxx xxx4
3xxx xxxx xxxx xxx5 ===> đây là kết quả đúng và con số 5 là số cần tìm.
3xxx xxxx xxxx xxx6
3xxx xxxx xxxx xxx7
3xxx xxxx xxxx xxx8
3xxx xxxx xxxx xxx9

Như vậy tới đây là tạm thời có thể hiểu cách tìm (tính toán) sao cho có một Number Card đúng.
Đây là cách tính thủ công, cách tính “mẹo”. Quá dễ phảI không các bạn.

Như vậy các bạn chỉ cần biết 4 con số đầu tiên để làm “gốc”, 4 con số này để chương trình biết nó là Master Card hay Visa Card … và đó chính là tên của ngân hàng. Sau đó các bạn có thể tự bịa ra 1 dãy số bất kỳ nào đó.
Thay đổi con số “cuối cùng” trong khoảng từ 0..9 để tìm ra con số đúng nhất và như vậy bạn đã có 1 Number Card hợp lệ.

Cách tính toán và tìm ra quy luật của Number Card.
Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ cần biết 4 con số đầu tiên mà thôi. Đó là 4 con số quy định tên ID của ngân hàng. Chúng ta chỉ cần biết 4 con số đó là có thể tự tạo ra cho mình một số lượng Number Card dùng thoải mái cho đến ngày vào Prison chơi
Sau đây tôi sẽ cùng các bạn đi tìm cách tính toán một cách khoa học và chính xác hơn chứ không phảI ngồi mò mò, rồi phảI thay đổi con số cuối cho phù hợp.

Ví dụ: 5204 xxxx xxxx xxxY
5204 = Security Pacific : đây là Master Card do ngân hàng Security Pacific phát hành.
xxxx xxxx xxx: là một dãy số ngẫu nhiên, bất kỳ nào đó.
Y : đây là con số cần tìm để Number Card là hợp lệ

Sau khi biết 4 số đầu tiên, ta có thể lấy ngẫu nhiên và bất kỳ từ số 0 đến số 9 của mười một ký tự số đại diện cho chữ X.

Giả sử tôi lấy là
5204 1234 5678 901Y
5204 xxxx xxxx xxxY

Trong đó ta chia ra làm 2 dãy số chẵn và dãy số lẽ.
a. Dãy số 5 0 1 3 5 7 9 1 ta gọi là dãy số lẽ.
b. Dãy số 2 4 2 4 6 8 0 Y ta gọi là dãy số chẫn.

Lấy từng chữ số trong dãy số lẻ “nhân” với 2
5 x 2 = 10
0 x 2 = 0
1 x 2 = 2
3 x 2 = 6
5 x 2 = 10
7 x 2 = 14
9 x 2 = 18
1 x 2 = 2

Nếu kết quả nhân của từng số nào lớn hơn 9, thì ta lấy số đó trừ đi 9.
5 x 2 = 10 – 9 = 1
0 x 2 = 0 = 0
1 x 2 = 2 = 2
3 x 2 = 6 = 6
5 x 2 = 10 = 1
7 x 2 = 14 – 9 = 5
9 x 2 = 18 – 9 = 9
1 x 2 = 2 = 2

Cộng các kết quả mới tình được lai với nhau:
1 + 0 + 2 + 6 + 1 + 5 + 9 + 2 = 26 ===èSố A

Cộng các chữ số của dãy số chẵn lại với nhau, vì Y là số cần tìm và ta chưa biết nên không cần cộng
Dãy số 2 4 2 4 6 8 0 Y là dãy số chẵn đã nói ở trên
2 + 4 + 2 + 4 + 6 + 8 + 0 = 26 ===è Số B

Lấy A + B
26 + 26 = 52
TớI đây ta lấy số cuối cùng là 2 cộng thêm 8 để làm tròn số thành 10
Ví dụ:
+ số cuối cùng là 3 thì cộng thêm 7 để thành 10
+ số cuối cùng là 4 thì cộng thêm 6 để thành 10
+ số cuối cùng là 5 thì cộng thêm 5 để thành 10
+ số cuối cùng là 6 thì cộng thêm 4 để thành 10
+ số cuối cùng là 7 thì cộng thêm 3 để thành 10
+ số cuối cùng là 8 thì cộng thêm 2 để thành 10
+ số cuối cùng là 9 thì cộng thêm 1 để thành 10
+ số cuối cùng là 0 thì cộng thêm 0 để thành 0 =è chú ý chỗ này
+ số cuối cùng là 1 thì cộng thêm 9 để thành 10

Nói chung là cộng thêm số nào đó để nó thành số chẵn là 10
Vậy cái số bí mật cần tìm chính là con số được cộng thêm vào.
Trong ví dụ này, đó chính là con số 8.
Vậy số Y cần tìm là 8
Số Number Card là 5204 1234 5678 9018

http://www.4shared.com/dir/583440/6f4c8903/software.html

(Theo nguồn http://my.opera.com/13F/blog/ )

Comments»

1. Chia sẻ kiến thức công nghệ congnghechiase.com - 12/10/2015

It’s amazing in support of me to have a website, which is helpful designed
for my experience. thanks admin


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: